Thích bài viết
  • Rating 12345

QUY ĐỊNH VỀ THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN, THUẾ THU NHẬP DOANH NGHIỆP ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG CHUYỂN NHƯỢNG PHẦN VỐN GÓP, CỔ PHẦN (CÔNG TY CHƯA NIÊM YẾT)

Đặt vấn đề

Hoạt động chuyển nhượng phần vốn góp (đối với loại hình công ty TNHH) và chuyển nhượng cổ phần (đối với loại hình công ty cổ phần) diễn ra khá phổ biến, mạnh mẽ những năm gần đây. Đặc biệt, sự ra đời của Luật doanh nghiệp 2014, Luật đầu tư 2014 cùng có hiệu lực từ ngày 01.07.2015 đã góp phần thúc đẩy cho hoạt động này thêm phát triển do sự đổi với về thủ tục đầu tư, đăng ký doanh nghiệp.

Theo Báo có số lượng dự án đầu tư nước ngoài của Bộ Kế Hoạch và Đầu Tư năm 2017, trong cả nước, hoạt động đầu tư trực tiếp dưới hình thức góp vốn, mua cổ phần của các nhà đầu tư nước ngoài đạt 5002 dự án, tổng giá trị lên đến 6.191,12 triệu USD.

(http://www.mpi.gov.vn)

Đó là chưa kể đến số nhà đầu tư nước ngoài góp vốn, mua cổ phần thuộc diện không phải thực hiện thủ tục góp vốn, mua cổ phần theo quy định của luật đầu tư và giá trị giao dịch của các doanh nghiệp 100% vốn Việt Nam.

Do đó, quy định về thuế thu nhập cá nhân (TNCN) và thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN) đối với hoạt động này là một trong các vấn đề quan trọng mà các nhà đầu tư quan tâm và có ý nghĩa trong việc quyết định thực hiện đầu tư tại Việt Nam.

Trong lĩnh vực này, các nghiên cứu và bài viết trước đây chủ yếu tập trung vào vấn đề phương pháp tính thuế thu nhập đối với từng trường hợp cụ thể đối với cá nhân hoặc doanh nghiệp. Khi đó, chúng tôi muốn tổng hợp, so sánh giữa các quy định pháp luật đối với nhiều trường hợp chuyển nhượng khác nhau. Thông qua đó có cái nhìn tổng quát, so sánh giữa các phương án trong việc lựa chọn hình thức đầu tư. Đồng thời, bài viết có điểm qua một số trường hợp thực tiễn “lách luật” về thuế thu nhập đối của nhà đầu tư.

Phạm vi bài viết chỉ giới hạn đối với hoạt động chuyển nhượng phần vốn góp (đối với loại hình công ty TNHH) và chuyển nhượng cổ phần (đối với loại hình công ty CP chưa niêm yết trên thị trường, bao gồm cả thị trưởng UPCOM) và Công ty cổ phần không có ủy quyền cho công ty chứng khoán quản lý cổ phần, danh sách cổ đông.

Quy định của pháp luật hiện hành

Căn cứ vào luật thuế thu nhập cá nhân, thuế thu nhập doanh nghiệp hiện hành, mức thuế suất và cách tính đối với các khoản thuế thu nhập trong hoạt động chuyển nhượng phần vốn góp và chuyển nhượng cổ phần như sau:

Cách tính thuế thu nhập phải nộp cơ bản như sau:

Đối tượng chịu thuế Thu nhập từ chuyển nhượng vốn góp trong công ty TNHH Thu nhập từ chuyển nhượng cổ phần
Cá nhân cư trú (Giá chuyển nhượng – giá mua  và các chi phí hợp lý khác) x 20% Giá chuyển nhượng từng lần x 0,1%
Cá nhân không cư trú Giá chuyển nhượng từng lần x 0,1%
Doanh nghiệp (bao gồm cả doanh nghiệp được thành lập theo pháp luật nước ngoài) (Giá chuyển nhượng – giá mua và các chi phí hợp lý khác) x 20%

Trong đó:

  1. Giá chuyển nhượng là số tiền mà cá nhân nhận được theo hợp đồng chuyển nhượng vốn, Hợp đồng chuyển nhượng. Trường hợp hợp đồng chuyển nhượng không quy định giá thanh toán hoặc giá thanh toán trên hợp đồng không phù hợp với giá thị trường thì cơ quan thuế có quyền ấn định giá chuyển nhượng theo quy định của pháp luật về quản lý thuế.
  2. Giá mua: Giá mua của phần vốn, cổ phần chuyển nhượng được xác định đối với từng trường hợp cụ thể, cơ bản như sau:
  • Nếu là chuyển nhượng vốn góp, cổ phần thành lập doanh nghiệp là giá trị phần vốn góp, cổ phần lũy kế đến thời điểm chuyển nhượng vốn trên cơ sở sổ sách, hồ sơ, chứng từ kế toán và được các bên tham gia đầu tư vốn hoặc tham gia hợp đồng hợp tác kinh doanh xác nhận, hoặc kết quả kiểm toán của công ty kiểm toán độc lập đối với doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài.
  • Nếu là phần vốn do mua lại thì giá mua là giá trị vốn tại thời điểm mua. Giá mua được xác định căn cứ vào hợp đồng mua lại phần vốn góp, chứng từ thanh toán.
  1. Chi phí hợp lý là các khoản chi thực tế liên quan trực tiếp đến việc chuyển nhượng, có chứng từ, hóa đơn hợp pháp và có thể bao gồm: chi phí để làm các thủ tục pháp lý cần thiết cho việc chuyển nhượng; các khoản phí và lệ phí phải nộp khi làm thủ tục chuyển nhượng; các chi phí giao dịch, đàm phán, ký kết hợp đồng chuyển nhượng và các chi phí khác có chứng từ chứng minh.

Phương pháp kê khai, khấu trừ thuế thu nhập

Đối tượng chịu thuế Thu nhập từ chuyển nhượng vốn góp trong công ty TNHH Thu nhập từ chuyển nhượng cổ phần
Cá nhân cư trú Khai thuế theo từng lần chuyển nhượng không phân biệt có hay không phát sinh thu nhập. Khai thuế theo từng lần
Cá nhân không cư trú Tổ chức, cá nhân nhận chuyển nhượng thực hiện khấu trừ thuế và khai thuế theo từng lần phát sinh. Tổ chức, cá nhân nhận chuyển nhượng thực hiện khấu trừ thuế và khai thuế theo từng lần phát sinh
Cá nhân cư trú và Cá nhân không cư trú chuyển nhượng vốn không cung cấp được chứng từ đã kê khai, nộp thuế. Doanh nghiệp nơi cá nhân chuyển nhượng vốn có trách nhiệm khai thuế, nộp thuế thay cho cá nhân Doanh nghiệp nơi cá nhân chuyển nhượng vốn có trách nhiệm khai thuế, nộp thuế thay cho cá nhân
Doanh nghiệp (bao gồm cả doanh nghiệp được thành lập theo pháp luật nước ngoài) Doanh nghiệp trong nước có thu nhập từ chuyển nhượng vốn thì khoản thu nhập này được xác định là khoản thu nhập khác và kê khai vào thu nhập chịu thuế khi tính thuế thu nhập doanh nghiệp.

Đối với tổ chức nước ngoài (có thu nhập từ chuyển nhượng vốn và chứng khoán, tổ chức, cá nhân nhận chuyển nhượng có trách nhiệm xác định, kê khai, khấu trừ và nộp thay tổ chức nước ngoài số thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp. Trường hợp bên nhận chuyển nhượng vốn cũng là tổ chức nước ngoài không hoạt động theo Luật Đầu tư, Luật Doanh nghiệp thì doanh nghiệp thành lập theo pháp luật Việt Nam nơi các tổ chức nước ngoài đầu tư vốn có trách nhiệm kê khai và nộp thay số thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp từ hoạt động chuyển nhượng vốn của tổ chức nước ngoài.


Thực tiễn áp dụng pháp luật về Thuế thu nhập cá nhân, Thuế thu nhập doanh nghiệp

Từ những quy định pháp luật nêu trên, các nhà đầu tư hiện nay thường sử dụng các cách thức để “lách luật” nhằm tối ưu hóa về thuế phổ biến như sau:

Trường hợp 1: các cá nhân, doanh nghiệp chuyển nhượng vốn tại Công ty TNHH thỏa thuận Giá chuyển nhượng (giá bán) bằng với giá trị phần vốn góp theo sổ sách của công ty. Trong trường hợp này, việc mua bán không phát sinh thu nhập nên cá nhân, tổ chức chuyển nhượng không phải nộp thuế thu nhập. Đây là các làm tìm ẩn nhiều rủi ro về mặt pháp lý của giao dịch của cả bên mua và bên bán. Ngoài ra, đây cũng là dấu hiệu để cơ quan thuế nghi nhờ và áp dụng quy định ấn định thuế theo Điều 11 Thông tư 111/2013/TT-BTC, và Điều 14, Điều 15 Thông tư 78/2014/TT-BTC.

Trường hợp 2: Doanh nghiệp ủy thác cho nhà đầu tư cá nhân (thường là chủ sở hữu của A hoặc Giám đốc) thay mặt cho Doanh nghiệp A nhận chuyển nhượng cổ phần của công ty cổ phần.

Trường hợp 3: Nhà đầu tư quyết định chuyển đổi từ Công ty TNHH thành công ty cổ phần, hoặc ngược lại trước khi thực hiện việc chuyển nhượng cổ phần, phần vốn góp. Do đó, thuế thu nhập do chuyển nhượng là 20 tỷ x 0.1% = 20 triệu đồng.

Vì vậy, thuế thu nhập sẽ thấp hơn rất nhiều đối với bên chuyển nhượng.

Trường hợp 4: Công ty TNHH A là doanh nghiệp liên doanh giữa nhà đầu tư nước ngoài X và nhà đầu tư trong nước Y để thực hiện dự án kinh doanh tại Việt Nam. Trong đó, phần vốn của X tại Công ty A là 51%. Doanh nghiệp nước ngoài khác là Z muốn nhận chuyển nhượng phần vốn 51% của X tại Công ty A. Theo quy định pháp luật, X phải nộp thuế thu nhập tại Việt Nam. Do đó, X đề nghị phương án chuyển nhượng vốn của X tại nước ngoài cho Z. Vì vậy, việc chuyển nhượng vốn của X và Z diễn ra ngoài lãnh thổ Việt Nam, nên X không phải chịu thuế thu nhập tại Việt Nam. Về cơ bản Z vẫn đạt được mục đích tham gia thực hiện dự án tại Việt Nam nhưng Chủ sở hữu của Công ty A vẫn không thay đổi là X và Y. Tuy nhiên, về mặt quản lý nhà nước, cơ quan thuế Việt Nam đã mất đi một khoản thu rất lớn.

Đề xuất

Từ những thực tiễn như trên, tác giả có một số đề xuất để hoàn thiện hơn nữa quy định của pháp luật về thuế thu nhập cá nhân, thuế thu nhập doanh nghiệp và tang cường hiệu quả quản lý nhà nước như sau:

  1. Tăng cường công tác kiểm tra, đánh giá việc chuyển nhượng vốn, cổ phần của doanh nghiệp. Đặc biệt đối với hoạt động chuyển nhượng ghi giá chuyển nhượng (giá bán) bằng hoặc thấp hơn giá trị phần vốn của doanh nghiệp theo sổ sách công ty để có thể ấn định giá bán, mức thuế phù hợp.
  2. Bổ sung quy định chặt chẽ, cụ thể về phương pháp ấn định giá bán trong trường hợp Hợp đồng chuyển nhượng vốn, cổ phần không ghi giá bán hoặc ghi giá bán không phù hợp với giá thị trường. Pháp luật hiện nay chỉ ghi nhận quyền được ấn định giá bán nhưng không có cơ chế, phương pháp ấn định giá bán, giá thị trường sẽ gây khó khăn cho cơ quan thuế trong quá trình áp dụng vào thực tế. Thực tế hiện nay, cơ quan thuế không hoặc rất ít áp dụng quy định này.
  3. Bổ sung quy định thanh toán không dùng tiền mặt trong giao dịch chuyển nhượng vốn, cổ phần của cả cá nhân và tổ chức. Theo quy định hiện hành tại Nghị định 222/2013/NĐ-CP thanh toán bằng tiền mặt và thông tư hướng dẫn thi hành chỉ hạn chế giao dịch thanh toán bằng tiền mặt trong chuyển nhượng chứng khoán, chuyển nhượng vốn đối với doanh nghiệp, tổ chức sử dụng vốn nhà nước.
  4. Cơ quan nhà nước cần lựa chọn và thống nhất về các căn cứ tính thuế, thuế suất đối với hoạt động phần vốn góp, chuyển nhượng cổ phần (của các doanh nghiệp chưa niêm yết) để đảm bảo công bằng cho người chịu thuế và hạn chế các trường hợp lách luật như trên. Theo đề xuất của tác giả, cơ quan thuế có thể áp dụng 01 cách tính duy nhất theo phương pháp, thuế suất là: 0.1% trên giá chuyển nhượng.
  5. Nhà nước Việt Nam cần tăng cường hợp tác, ký kết các hiệp định với nước ngoài hoặc tổ chức quốc tế khác để quản lý, điều chỉnh hoạt động chuyển nhượng vốn của doanh nghiệp nước ngoài có dự án đầu tư tại Việt Nam.

Ngoài ra, việc thực thi các quy định của pháp luật về thuế phụ thuộc rất lớn vào yếu tố con người trong quản lý nhà nước. Thật vậy, tất cả các giải pháp trên chỉ phát huy tác dụng tích cực đến môi trường đầu tư khi và chỉ khi công chức, cán bộ thuế thực hiện đúng chuẩn mực, trách nhiệm trong công tác quản lý thuế. Nếu không hạn chế được sự tiêu cực, tham nhũng trong cơ quan quản lý thuế thì tất cả các giải pháp đưa ra dùng đúng, phù hợp với thực tế đến đâu đi chăng nữa cũng sẽ gây ra sự nhũng nhiễu, không công bằng đối với nhà đầu tư và doanh nghiệp./.

Nguyễn Bùi Bá Huy / Associate *

PS: Bài viết mang tính chất tham khảo, theo quan điểm cá nhân. Qúy độc giả nếu có vướng mắc hãy liên hệ với chúng tôi để được tư vấn và hỗ trợ một cách nhanh chóng và chính xác nhất.

 


Bình luận